HIỆp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ SẢn việt nam




Дата канвертавання27.04.2016
Памер160.63 Kb.

HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THUỶ SẢN VIỆT NAM

BÁO CÁO
CÁC NỘI DUNG KIẾN NGHỊ VỚI BỘ NNPTNT VỀ THÔNG TƯ 48/2013/TT-BNNPTNT

(Tài liệu phục vụ cuộc họp với Bộ trưởng Cao Đức Phát về Thông tư 48/2013/TT-BNNPTNT, ngày 19/2/2014 tại Bộ NNPTNT)
------------------------------------------------------

A) BỐI CẢNH

Ngày 12/11/2013, Bộ NN và PTNT đã ban hành Thông tư số 48/2013/TT-BNNPTNT (TT48) quy định về kiểm tra, chứng nhận ATTP thủy sản XK. TT48 thay thế Thông tư số 55/2011/TT-BNNPTNT (TT55) ngày 3/8/2011 và có hiệu lực kể từ ngày 26/12/2013.

Đây cũng là kết quả của cộng đồng DN & VASEP sau hơn 24 tháng liên tục gửi 12 văn bản liên quan, 2 đợt khảo sát DN, 3 lần họp lấy ý kiến của DN thủy sản về Dự thảo thay thế TT55, 4 lần đối thoại với Lãnh đạo Bộ (Bộ trưởng và Thứ trưởng), cùng khoảng 8 cuộc họp liên quan với Bộ NNPTNT, Bộ Tư Pháp và Cục NAFIQAD.

Tiếp thu góp ý và kiến nghị của VASEP và các DN thủy sản, TT48 ban hành đã cơ bản tháo gỡ và tạo thuận lợi hơn cho hoạt động XK của DN XK thủy sản. Nhưng còn ít nhất 3 nội dung chính của Hiệp hội đã nêu tại Công văn số 151/2013/CV-VASEP góp ý dự thảo sửa đổi lần 2 TT55 gửi NAFIQAD chưa được tiếp thu và chỉnh sửa, và từ khi TT48 ban hành, nhiều DN đã có ý kiến phản hồi về VASEP do vẫn còn những tồn tại và phát sinh.



B) CÁC NỘI DUNG ĐÃ ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH TẠI TT48/2013:

  1. Bỏ nội dung mang tính trừng phạt nặng nề như tại Điểm b, Khoản 1, Điều 31 của TT55 là tạm ngưng XK đối với DN có quá 03 lô hàng cùng nhóm sản phẩm tương tự trong 6 tháng bị cơ quan thẩm quyền nước NK cảnh báo về CL, ATTP.

  2. Sửa định nghĩa cơ sở chế biến thủy sản độc lập theo ý kiến DN: từ việc cơ sở phải có từ “tiếp nhận nguyên liệu đến bảo quản thành phẩm cuối cùng” (TT55), sang đến “....công đoạn bao gói cuối cùng”.

  3. Thống nhất phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Thông tư là các nhà máy chế biến thủy sản để XK, và áp dụng với các lô hàng XK vào các nước có yêu cầu chứng nhận.

  4. Cách tiếp cận cũng đã có hướng điều chỉnh thay đổi so với TT55 là không lấy mẫu kiểm nghiệm bắt buộc làm điều kiện để cấp Chứng thư cho các lô hàng XK. Các DN loại ‘A” và “B” đã được xem xét kế thừa cho vào danh sách ưu tiên ở TT48.

  5. Các hoạt động của Cơ quan thẩm quyền trong kiểm tra/kiểm nghiệm, thanh tra, cấp/thu hồi giấy chứng nhận trong phạm vi quy định của TT48 được thực hiện theo các quy định của Luật ATTP.

C) CÁC NỘI DUNG CÒN TỒN TẠI & PHÁT SINH:

I. Về đánh lỗi theo Bảng chỉ tiêu đánh giá nhà máy: TT48 mở rộng và tăng mức đánh lỗi ở đa số các chỉ tiêu tại Bảng đánh giá điều kiện SX ATTP cơ sở chế biến thủy sản. Nếu áp dụng theo mức đánh giá để phân loại quá nghiêm ngặt như tại TT48 thì hầu hết các DN rất khó đạt hạng 1, thậm chí khó có thể đạt được hạng 2. Cụ thể:

  1. Khung lỗi ở hầu hết các chỉ tiêu đánh giá là cao hơn, nghiêm ngặt hơn nhiều so với khung (mức) của TT55, nhiều chỗ không phù hợp ở các hạng mục phần cứng không trực tiếp tiếp xúc với sản phẩm, khiến cho khả năng tụt hạng xếp loại của các nhà máy cao hơn (mặc dù cùng một ĐKSX không thay đổi). Đa số nhà xưởng sẽ khó có thể đạt được Hạng 1 và thậm chí Hạng 2:

* Về hạng mục: tất cả khung đánh lỗi của TT48 đều được tăng nặng hơn TT55 (xem Bảng màu so sánh), hầu hết các hạng mục đều được chuyển từ lỗi nhẹ (Mi) sang lỗi nặng (Ma); từ lỗi nặng (Ma) sang lỗi nghiệm trọng (Se) và nhiều khung Se chuyển lên khung tới hạn (Cr). Như vậy khả năng bị đánh lỗi Ma, lỗi Se và Cr trong TT48 cao hơn rất nhiều so với TT 55. Chưa kể, ở TT 55 không có khung lỗi tới hạn (Cr), nhưng TT48 có tới 21 hạng mục có lỗi tới hạn này.

* Về chỉ tiêu: Tại bảng đánh giá xưởng đông lạnh, so với TT55 trước đó, tổng mức đánh lỗi nhẹ (Mi) là 101 lỗi thì tại TT48 đã “bị giảm” hơn 3,5 lần (chỉ còn ở 28 hạng mục) để “nhường” cho việc tăng khung tới các lỗi nghiêm trọng (Se) lên gần 4 lần (từ 25 lên 95 hạng mục), và đặc biệt từ không áp dụng mức tới hạn (Cr) tại TT55 đã “mở” lên 21 lỗi tới hạn tại TT48. Tổng mức lỗi SeCr của TT48 là 116, cao gấp 4,6 lần tổng SeCr của TT55 (chỉ có 25). Trong khi, tiêu chí xếp hạng (A-B-C) ở TT55 và (1-2-3-4) ở TT48 đều không được có lỗi tới hạn-Cr, nếu có sẽ là không đạt (loại 4) (Xem thêm Phụ lục Tổng hợp so sánh tiêu chí đánh giá nhà máy CBTS đông lạnh).

  1. Bảng đánh giá ĐKSX cơ sở chế biến là nội dung kỹ thuật rất quan trọng trong hoạt động bảo đảm & quản lý ATTP, tác động lớn đến hoạt động của các cơ sở chế biến. Nội dung này được quy định rõ tại điều 19-20-21 của Luật ATTP và Khoản 6, Điều 21 của Nghị định 38/2012/NĐ-CP (Hướng dẫn 1 số điều của Luật ATTP). Theo đó, các nội dung kỹ thuật này phải được các Bộ (Công Thương, NNPTNT) xây dựng (theo hướng dẫn) trên cơ sở quy định về điều kiện chung bảo đảm ATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm do Bộ Y tế ban hành tại Thông tư 15/2012/TT-BYT ngày 12/9/2012.

Đề nghị Xem xét điều chỉnh nội dung này của TT48, theo hướng giữ nguyên khung lỗi theo bảng đánh giá của TT55, để đảm bảo các cơ sở pháp lý và cơ sở Khoa học.

II. Về xếp hạng cơ sở chế biến (sau khi đánh giá theo Bảng chỉ tiêu đánh giá kể trên):


Stt

Tên văn bản

Xếp hạng

Nhẹ (Mi)

Nặng (Ma)

Nghiệm trọng (Se)

Tới hạn (Cr)

2

Thông tư 55/2011

(biểu mẫu 4a)



(26 nhóm chỉ tiêu)

A

≤9

0

0




B


>9

0

0




Mi + Ma ≤ 13

≤ 9

0




C



Mi + Ma > 13

≤ 9

0




-

>9

0




-

-

≥ 1




3

Thông tư 48/2013 (Phụ lục 5b – 1)

(26 nhóm chỉ tiêu)

1

≤11 - Ma

≤5

0

0

2

>11

0

0

0

-

≤ 6

1

0

-

7

0

0

3

-

≤10

≤ 2

0

-

11

≤ 1

0

4

-

-

-

≥1

-

-

≥3

-

-

≥11

≤ 2

-

  1. Theo bảng tổng hợp trên, loại A (TT55) và Loại 1 (TT48 mới) đều không được phép có lỗi Nghiêm trọng (Se) và lỗi tới hạn (Cr), và về nguyên tắc thì 2 loại này là tương đương nhau trong xếp hạng. Nhưng Bảng đánh giá ĐKSX của TT48 thì cho phép số chỉ tiêu có lỗi Se tăng lên gần 4 lần, và đặc biệt có 21 chỉ tiêu có lỗi Cr trong khi không có Cr ở bảng đánh giá của TT55, trọng số các chỉ tiêu đánh giá rơi vào Se và Cr là nhiều hơn TT55 nhiều lần, và như vậy khả năng đạt loại 1 ở TT48 là khó hơn rất nhiều.

  2. Đối chiếu với cách Xếp hạng của một số quốc gia khác (EU, Mỹ, Thái Lan), cách đánh giá của TT48 cũng nghiêm ngặt hơn:




Stt

Quốc gia

Xếp hạng

Nhẹ (Mi)

Nặng (Ma)

Nghiệm trọng (Se)

Tới hạn (Cr)

Nhận xét

1

Việt Nam (Thông tư 48)

1

≤11 - Ma

≤ 5

0

0




2

>11

0

0

0




-

≤ 6

1

0




-

7

0

0




3

-

≤10

≤ 2

0




-

11

≤ 1

0




4

-

-

-

≥1




-

-

≥3

-




-

≥11

≤ 2

-




2

EU

A

< 6

≤ 5

< 1

0

Yêu cầu thấp hơn hạng 1 của TT 48

B

≥ 7

6 - 10

1 - 2

0

Yêu cầu thấp hơn hạng 2 của TT 48

C

-

≥ 11

3 - 4

0

Yêu cầu thấp hơn hạng 3 (b) của TT 48

D

-

-

≥ 5

1




3

Mỹ

1

< 6

≤ 5

< 1

0

Yêu cầu thấp hơn hạng 1 của TT 48

2

≥ 7

6 - 10

2 - 4

0

Yêu cầu thấp hơn hạng 2 của TT 48

3

-

≥ 11

3 - 4

0

Yêu cầu thấp hơn hạng 3 (b) của TT 48

4

Các DN còn lại




4

Thái Lan

1

< 6

≤ 5

< 1

0




2

< 7

≤ 6

≤ 1

0




3

< 7

≤ 2

≤ 8

0




4

< 10

-

≤ 2

0




5

> 10




> 2

>0

Yêu cầu thấp hơn hạng 4 của TT 48


Đề nghị: Sửa đổi, điều chỉnh khung lỗi trong bảng đánh giá (checklist) cho phù hợp. Đồng thời đề nghị Bộ NNPTNT xem xét điều chỉnh Cấu trúc xếp hạng cơ sở chế biến theo hướng khuyến khích các DN làm tốt hơn trong hoạt động kiểm soát ATTP của nhà máy. Nên chăng chỉ nên quy định 2 hạng là "đạt" và "không đạt". Cơ sở đạt thì được phép sản xuất xuất khẩu; cơ sở không đạt thì không được phép. Bộ quy định rõ điều kiện để NAFIQAD xem xét chuyển cơ sở từ hạng nọ sang hạng kia. Còn việc xếp hạng chi tiết hơn (A, B, C,..) là nghiệp vụ nội bộ của cục NAFIQAD để quản lý.

III. Về tỷ lệ lấy mẫu thẩm tra:

Phụ lục X: Tỷ lệ lấy mẫu thẩm tra sản phẩm sản xuất từ cơ sở trong danh sách ưu tiên

Sản phẩm theo mức rủi ro

Chế độ thẩm tra (1)

Đặc biệt

Hạng 1

Hạng 2

Sản phẩm rủi ro thấp (3)

2%

10%

20%

Sản phẩm rủi ro cao (2)

5%

15%

25%

  1. Tỷ lệ lấy mẫu thẩm tra từ cơ sở trong Danh sách ưu tiên (tại Phụ lục X, TT48) là quá lớn so với nguyên tắc thẩm tra và so với quy định hiện hành của các nước tại EU, Mỹ, Canada, Thái Lan.... Quy định của TT48 (Phụ lục X) không phải là việc lấy mẫu để thẩm tra, mà là giám sát, vì tỷ lệ lấy mẫu không kém TT55, vẫn là trung bình 10-25%, tức khoảng cứ: 4-10 sản xuất lấy mẫu kiểm nghiệm 1 lô.

  2. Đặc biệt, tỷ lệ lấy mẫu theo TT48 lại quy định căn cứ trên “số lô sản xuất” chứ không phải là “lô xuất khẩu”, sẽ khiến cho quy mô “số lô” tính toán sẽ cao lên nhiều, vì thực tế 1 lô XK thường bao gồm từ 2 đến nhiều lô sản xuất - bao gồm cả cá tra, và nhất là các DN làm tôm và hàng hải sản (cá ngừ, cá biển, mực-bạch tuộc, surimi ..v...v..).

  3. Việc “chuyển” từ lô XK sang lấy mẫu theo “lô sản xuất” là chưa tính đến mục tiêu của việc sửa TT55 là “giảm giá thành cho DN”, mà ngược lại còn gia tăng hơn đến 1,5 lần:

    • Như sản phẩm cá tra fillet đông lạnh, được SX tại các Cơ sở loại 1 & loại 2, thì cũng trung bình 2-3 lô SX/1 lô XK, theo Phụ lục X kể trên, thì số mẫu phải lấy trong 1 tháng theo TT48 gấp 1,5 lần số mẫu theo TT55. Theo số liệu thực tế của 1 DN cá tra có 2 nhà máy, nhà máy hạng 2: 1 tháng sản xuất 41 lô SX, XK thành 18 lô, theo TT55: lấy 6 mẫu, theo TT48 lấy 10 mẫu; nhà máy hạng 1: một tháng sản xuất 57 lô SX, XK thành 32 lô, theo TT55: lấy 6 mẫu, theo TT48 lấy 10 mẫu. Và, theo lũy tiến này thì cho thấy số lượng sản xuất càng nhiều thì tỷ lệ sẽ càng tăng lên.

    • Với DN sản xuất XK tôm cũng thế, 01 tháng DN XK được 15 lô-hàng-xuất-khẩu thì theo TT 55 chỉ phải lấy mẫu kiểm tra tối đa là 8 lô-hàng-XK (mỗi lô-hàng-xuất lấy: 2 mẫu kháng sinh +5 mẫu vi sinh, tức là 8 x (2+5)= 56 mẫu). Tuy nhiên nếu tính tỷ lệ lấy mẫu theo lô-hàng-sản-xuất (TT48) thì số lô-hàng-sản-xuất là 49 lô, tỷ lệ lấy mẫu là 25% thì số lô hàng phải lấy mẫu là 12 lô (tức là 12x(2+5)= 84 mẫu). Số mẫu phải lấy cũng tăng khoảng 1,5 lần.

  4. Theo thông lệ kiểm soát của CQTQ các nước cũng như tại Điều 3 (Giải thích từ ngữ) của TT48, lô hàng xuất khẩu mới là lô để đăng ký kiểm tra và chứng nhận để xuất khẩu, chứ không phải là lô “sản xuất”. Thêm vào đó, định nghĩa “lô sản xuất” tại Điều 3, TT48 lại bị khống chế là phải sản xuất trong 24 giờ (không có quy định này trong định nghĩa lô hàng trong Codex Stan 1-1985 và Luật Hoa Kỳ 50CFR 260 mục a) trang 853). Nếu sản xuất quá 1 ngày, sẽ thêm 1 date và thành “lô’ khác, quy mô số lô sẽ càng nhiều hơn. Điều này không đúng thực tế, vì ngay như cá Tra, một lô nguyên liệu 300 - 400 tấn không thể sản xuất trong 1 ngày được và 1 container hàng phải sản xuất từ nhiều lô nguyên liệu vì tùy theo yêu cầu của khách hàng về size cỡ, màu sắc.

  5. Số mẫu lưu kho cho việc thẩm tra của cục NAFIQAD là lớn: Với quy định như trên theo Điều 27 & Phụ lục X (TT48), DN sẽ phải lưu kho các mẫu của các lô đã SX và đã XK. Lượng hàng lưu kho đông lạnh (tồn) này sẽ là khá lớn và gây khó khăn cho DN.

Đề nghị: có cách tiếp cận phù hợp hơn (Sau khi gửi phiếu thông tin trước khi xuất khẩu, Trung tâm NAFIQAD thông báo là lấy mẫu nào để DN sắp xếp cho CQ ktra).

  1. Theo nguyên tắc Thẩm tra (không phải là lấy mẫu giám sát) của CQTQ một số nước, như EU chỉ là lấy ngẫu nhiên (random) hoặc khi cần thiết để thẩm tra các chỉ tiêu ATTP; Hoa kỳ cũng thực hiện thẩm tra DN 1 lần cho khoảng thời gian 1-2 tháng, và Thái Lan thì 3 tháng lấy mẫu 1 lần (DN loại 1) và 2 tháng lấy mẫu 1 lần (DN loại 2).

  2. Một trong những điều kiện để ”xếp” sản phẩm rủi ro cao theo Phụ lục X kể trên là “Thủy sản và SP thủy sản có nguồn gốc từ nuôi trồng chưa được chứng nhận Quy phạm thực hành NTTS tốt VietGAP hoặc tương đương”. Điều này rất có ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay, và đặc biệt có tính khuyến khích DN đẩy mạnh tiếp cận theo hướng NTTS bền vững. Tuy nhiên, TT48 đã có hiệu lực từ cuối 2013, nhưng Bộ NNPTNT chưa có “quy định” hoặc “hướng dẫn” để các DN được hưởng quyền lợi này khi họ đã có các chứng nhận quốc tế (BAP, ASC, GlobalGAP....) mà VietGAP cũng đang muốn được “hài hòa, công nhận” với các tiêu chuẩn này.

  3. Việc tiếp cận đúng theo Luật ATTP và nguyên tắc quản lý ATTP là kiểm soát điều kiện sản xuất của cơ sở là chính, đồng thời thực hiện “thẩm tra” lại của CQNN bằng cách lấy mẫu kiểm nghiệm các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả kiểm soát của Nhà máy. Đó là sự phản ánh, ghi nhận trách nhiệm chính và cao nhất của của cơ sở/doanh nghiệp trong công tác đảm bảo ATTP theo đúng nội dung quy định tại Điều 3 Luật ATTP (nguyên tắc QL ATTP).

Đề nghị: Bộ NNPTNT xem xét sửa lại tỷ lệ lấy mẫu theo đúng nguyên tắc thẩm tra và đảm bảo mục tiêu giảm giá thành cho DN. Trong đó, xem xét: (1) giảm “tỷ lệ % lấy mẫu”, (2) có hướng dẫn/quy định kịp thời về chứng nhận tương đương VietGAP, (3) lấy lô XK làm căn cứ tính toán thay vì lô SX như quy định hiện hành của TT48.

IV. Về quy định thu phí và lệ phí:

Thẩm tra cũng là một hoạt động của quản lý Nhà nước. Việc thu phí và lệ phí của TT48 (nội dung tại Điều 9) và ràng buộc trách nhiệm này cho Chủ cơ sở/chủ hàng (Điều 37 & 38) là chưa thể hiện rõ quan điểm và đúng với quy định của Điều 48 Luật ATTP cũng như chính Phạm vi quy định của TT48 (Điều 48, Luật ATTP: chi phí lấy mẫu và kiểm nghiệm thực phẩm để kiểm tra, thanh tra ATTP do cơ quan quyết định việc kiểm tra, thanh tra chi trả).

Đề nghị: Bộ NNPTNT cần quy định và phân mục rõ các hạng mục công việc thuộc trách nhiệm kiểm tra, thanh tra của Bộ NNPTNT, để từ đó thống nhất với Bộ Tài chính, tránh chồng chéo giữa “trách nhiệm của Nhà nước” và “nghĩa vụ của DN” trong quá trình thực hiện liên quan đến trách nhiệm chi trả phí và lệ phí.

V. Về thực hiện tách bạch giữa “QL Nhà nước” và “dịch vụ theo yêu cầu DN”:

  1. Trong thời gian qua (thực hiện TT55) và sau đó khi TT48 bắt đầu có hiệu lực thì các Trung tâm NAFIQAD vùng gửi email hướng dẫn (TTV4 gửi ngày 30/12/2013) cho các DN thủy sản trực thuộc. Trong đó, một thực tế là khi các DN được hưởng “ưu tiên”, nếu chỉ cần “Giấy Chứng nhận H/C” thì chỉ cần đăng ký và sẽ được cấp Giấy Chứng thư sau 1 ngày (Điều 28). Nhưng nếu có thêm đề nghị lấy kết quả Phân tích thì phải thực hiện kiểm tra từng lô hàng theo hướng dẫn tại Mục 3 TT48 (không ưu tiên). Đây là một quy định không rõ ràng, chưa tách bạch giữa 2 việc “Cấp giấy H/C theo QLNN” và “kiểm nghiệm dịch vụ theo yêu cầu”. Chưa kể là ý nghĩa của Chứng thư bị giảm đi rất nhiều.

  2. Trong thực tế sản xuất XK thủy sản, nhiều nhà nhập khẩu, nhất là EU, có yêu cầu DN phải có bảng kết quả kiểm nghiệm 1 số chỉ tiêu ATTP cụ thể để kèm vào Bộ chứng từ xuất khẩu lô hàng. Và, trong nhiều trường hợp, họ đề nghị có bảng kiểm nghiệm (test) này từ phòng Lab của NAFIQAD. Với những lô này thuộc diện ưu tiên và theo TT48 sẽ được cấp Giấy chứng thư (H/C) ngay khi có yêu cầu của DN.

Đề nghị: tách bạch việc cấp Chứng thư theo quy định (QL Nhà nước) với việc “lấy mẫu kiểm nghiệm” theo đề nghị Dịch vụ từ DN.

  1. Cũng tương tự như trên, đối với các lô hàng ưu tiên thuộc phạm vi áp dụng của TT48 và khách hàng có yêu cầu có kiểm nghiệm chỉ 1 số chỉ tiêu cụ thể, tuy nhiên Trung tâm NAFIQAD vùng không đưa các lô này vào diện thẩm tra mà thực hiện lấy mẫu theo QĐ 2864, QĐ 1471 và yêu cầu khách hàng. Ví dụ: Lô hàng đi Hà Lan, khách yêu cầu kiểm 1 chỉ tiêu TPC thì NAFIQAD lấy mẫu như sau: kiểm cảm quan 6 mẫu + lấy 2 mẫu TPC + lấy 5 mẫu E.Coli, Salmonella, Histamin (số lượng & giới hạn theo QĐ 2864) + lấy 2 mẫu KLN (với tần suất, chỉ tiêu theo QĐ 1471 BNN). Nếu lấy mẫu như vậy sẽ phát sinh chi phí nhiều cho lô hàng đó, trong khi khách không cần kết quả những chỉ tiêu kia.

Đề nghị: phải đưa lô hàng vào diện xét tần suất thẩm tra (cấp H/C theo quy định) &  lấy 2 mẫu TPC kiểm theo yêu cầu DN là đủ để có kết quả phân tích.

VI. Về yêu cầu “người trực tiếp sản xuất” phải có Giấy chứng nhận tập huấn ATTP do CQ chức năng QL ATTP của ngành NNPTNT cấp:

Điều 10, khoản 1 điểm đ của TT 48 quy định: hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận ATTP phải gồm: “danh sách chủ cơ sở & người trực tiếp sản xuất thực phẩm đã được cơ quan chức năng quản lý chất lượng ATTP nông lâm thủy sản của ngành NNPTNT cấp giấy xác nhận tập huấn kiến thức về ATTP”.

  1. Theo quy định tại mục đ khoản 1 Điều 36 Luật ATTP chỉ quy định: chủ Cơ sở và người trực tiếp sản xuất được tập huấn kiến thức ATTP theo quy định của Bộ quản lý. Do vậy, không nên quy định cứng là chỉ có một vài Đơn vị là CQ thẩm quyền của Bộ NNPTNT được tham gia vào việc đào tạo này, mà cần phải xã hội hóa theo một chuẩn nào đó.

  2. Quy định này gây khó khăn cho DN, bởi số lượng công nhân lao động trong các nhà máy là rất lớn, thay đổi thường xuyên, thì việc phải luôn có đủ các “chứng nhận tập huấn ATTP” của CQ chức năng cho từng người là điều không thể, và đi ngược lại nguyên tắc huấn luyện thường xuyên trong nguyên tắc đảm bảo ATTP theo HACCP, đề cao vai trò “đào tạo nội bộ” và “đào tạo lại” - nhất là cho đội ngũ công nhân.

  3. Vấn đề kiến thức cần phải được mở rộng và khuyến khích các tổ chức tham gia, không chỉ là vấn đề xã hội hóa mà còn là quyền của các Nhà máy, cũng như yếu tố lịch sử và đặc thù của vấn đề nâng cao kiến thức, ví dụ: các Trường Đại học/Cao đẳng có đào tạo về ATTP, các đơn vị dịch vụ công có chuyên môn của Nhà nước, các đơn vị đào tạo có chuyên môn của các Tổ chức xã hội nghề nghiệp, các công ty tư vấn/đào tạo, các Dự án quốc tế hỗ trợ chuyên môn, và cả chính đội ngũ cấp cao có chuyên môn của DN (tập huấn nội bộ cho công nhân)..v..v... Ngoài ra, DN còn được quyền lựa chọn đơn vị đào tạo phù hợp nhất.

  4. Tại Điều 7, khoản 1, TT15/2012 của Bộ Y tế (quy định chung về ĐK bảo đảm ATTP) cũng chỉ quy định: Chủ cơ sở và người trực tiếp kinh doanh thực phẩm phải được tập huấn và được cấp Giấy xác nhận tập huấn kiến thức ATTP theo quy định.

  5. Ngay tại Điều 41 (Trách nhiệm của Cục NAFIQAD), TT48: Bộ NNPTNT cũng không có quy định trách nhiệm của Cục hay đơn vị nào thực hiện việc tập huấn ATTP cho công nhân/cán bộ ngành CBTS theo quy định tại Điều 10, khoản 1, mục đ kể trên.

  6. Bộ NNPTNT có thể có một quy định chung về “nội dung đào tạo” và “điều kiện tham gia dịch vụ đào tạo” này để chuẩn hóa và nâng cao nghiệp vụ chuyên môn.

Đề nghị: Sửa và thay đổi nội dung quy định này tại TT48, cần thiết thì chỉ cung cấp danh sách các cán bộ quản lý về ATTP được đào tạo và chứng nhận bởi cơ quan chức năng, còn người trực tiếp sản xuất thì cung cấp danh sách đào tạo nội bộ và đào tạo liên quan khác.

VII. Về các Quy định trong Danh sách Ưu tiên:

  1. Điều 22, khoản 2, mục c có qui định: trong 3 tháng liên tục có XK và không có lô hàng nào bị CQTQ Việt Nam và nước nhập khẩu phát hiện vi phạm về ATTP - thì sẽ được đưa vào DS ưu tiên.

Đề nghị: chỉ bãi bỏ việc ưu tiên đối với thị trường bắt buộc của nước nào bị cảnh báo, hoặc thị trường nào bị cơ quan thẩm quyền cảnh báo thôi, chứ không bỏ ưu tiên với tất cả các thị trường

  1. Điều 22, khoản 5, mục a: Điều kiện để DN được hưởng chế độ ưu tiên đặc biệt là không có bị cảnh báo trong vòng 12 tháng. Theo phản ánh của các DN, thì điều này là rất khó cho các DN để được vào DS ưu tiên đặt biệt vì thực tế công tác XK, lượng hàng xuất đi là nhiều, và bối cảnh kinh tế-xã hội, bối cảnh quản lý theo chuỗi của Việt Nam chưa thể so sánh ngay được với một số nước, thì nên chăng xem xét để yêu cầu này không là “quá khó” hay “đánh đố” với các DN làm ăn chân chính quan tâm đến chất lượng ATTP.

Đề nghị: chỉ nên qui định là bị cảnh báo ở mức giới hạn là bao nhiêu phần trăm thì không được nằm trong DS ưu tiên đặt biệt.

  1. Điều 22, khoản 5, mục b: Đối với truy xuất nguồn gốc, những trại nuôi có chứng nhận VietGAP và tương đương sẽ được công nhận đạt tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc.

Đề nghị: Bộ có các quy định, hướng dẫn về các Chứng nhận tương đương VietGAP.

  1. Chương III, mục 3, điều 28: gửi giấy đăng ký cấp Chứng thư (bản chính) không muộn quá 2 ngày làm việc kể từ khi lô hàng được xuất khẩu".

Đề nghị: Nên nới lỏng thêm (khoảng 7 ngày) để DN có thời gian thực hiện, đặc biệt là các lô xuất khẩu EU.

VIII. Về xử lý trường hợp lô hàng bị cảnh báo (Điều 36, TT48):

  1. Điều 36: các biện pháp xử lý được đưa ra là áp dụng chỉ với các thị trường có “Yêu cầu kiểm tra Nhà nước” theo đúng phạm vi của TT48 hay đối với tất cả các thị trường trên thế giới?

Đề nghị: Cục NAFIQAD làm rõ, và chỉ áp dụng mục (c) Điều 36 (lấy mẫu kiểm tăng cường) đối với các Thị trường có yêu cầu kiểm soát Nhà nước.

  1. Mục c, điều 36: “Chấp hành chế độ lấy mẫu kiểm nghiệm chỉ tiêu/ nhóm chỉ tiêu  vi phạm đối với từng lô hàng xuất khẩu của SP vi phạm được SX tại cơ sở, cho đến khi cơ quan kiểm tra, chứng nhận có văn bản chấp thuận báo cáo kết quả điều tra, nguyên nhân, biện pháp khắc phục của cơ sở” - trong thực tế thời gian qua khi thực hiện việc xử lý tương tự, nhiều DN phản ánh là sau khi lấy mẫu tăng cường đảm bảo 5 lô liên tiếp và DN đã đạt, có báo cáo giải trình .v..v..nhưng việc xem xét chấp thuận từ Cục NAFIQAD kéo dài sau đó và không xác định thời gian nào sẽ quay lại chế độ bình thường.

Đề nghị: Bộ NNPTNT quy định rõ thời gian cơ quan kiểm tra, chứng nhận có văn bản chấp thuận báo cáo kết quả điều tra, nguyên nhân, biện pháp khắc phục của cơ sở
IX. Về mức giới hạn trong đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm soát vệ sinh

Tại Phụ lục IV của Điều 14, qui định đối tượng lấy mẫu là “Tay / Găng tay công nhân và các bề mặt tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm”: thì mức giới hạn TPC: 100 CFU/1cm2, Coliform: không phát hiện.

  1. Theo phản ánh của một số DN thì với quy định này DN sẽ không thể nào đáp ứng được. Vì 2 chỉ tiêu vi sinh này có trên nguyên liệu rất cao nên khi tiếp xúc với dụng cụ hoặc găng tay thì sau khi làm vệ sinh xong lượng vi khuẩn còn luôn nhiều hơn mức quy định của TT48.

  2. Điều kiện vệ sinh là mức độ thiết lập và duy trì của cơ sở theo nguyên tắc ATTP của SSOP/ HACCP. Không có tiêu chuẩn hay bất cứ chỉ tiêu giới hạn quy định nào trong điều kiện vệ sinh, mà DN khi áp dụng HACCP thường phải tự xây dựng và thiết lập theo nguyên tắc ATTP để duy trì mức độ vệ sinh cao nhất.

Đề nghị: xem xét điều chỉnh phù hợp mức giới hạn chỉ tiêu này.

X. Phát sinh TTHC từ hướng dẫn của các Trung tâm NAFIQAD Vùng:

Ngay sau khi Bộ ban hành TT48, Cục NAFIQAD đã gửi CV số 2374/QLCL-CL1 tới các CQ NAFIQAD Miền, các TT NAFIQAD vùng hướng dẫn triển khai TT48.

Điều 27, TT48 về kế hoạch thẩm tra hiệu quả kiểm soát mối nguy ATTP tại cơ sở nằm trong danh sách ưu tiên quy định: “cơ quan kiểm tra, chứng nhận thống nhất với Cơ sở về kế hoạch thẩm tra bao gồm: Thời điểm lấy mẫu, loại  mẫu, số lượng mẫu cho từng đợt và bảo đảm thẩm tra ít nhất 1 lần/năm đối với mỗi dạng sản phẩm được SX, XK của cơ sở”.

  1. Khi bắt đầu thực hiện TT48, các Trung tâm NAFIQAD Vùng gửi email thông báo tới các DN yêu cầu: Định kỳ hàng tuần, DN phải Thông báo cho Trung tâm vùng kế hoạch dự kiến SXXK theo tuần (nếu có sản xuất). Trường hợp, nếu DN có kế hoạch SX dài hơn có thể báo cáo theo định kỳ nửa tháng hoặc hàng tháng. Căn cứ  vào kế hoạch SX dự kiến, Trung tâm sẽ thống nhất về kế hoạch và thời gian thực hiện lấy mẫu thẩm tra hiệu quả kiểm soát mối nguy ATTP của DN. Trong trường hợp có thay đổi, điều chỉnh hoặc bổ sung kế hoạch; DN cần thông báo cho Trung tâm không muộn quá 02 ngày làm việc trước thời điểm thực hiện lấy mẫu thẩm tra đã được thống nhất.Theo quy định tại Mục b K2 Điều 27 TT48 quy định “không muộn quá 3 ngày.

  2. Vấn đề là: (1) khi đã có kế hoạch thì sẽ dễ có điều chỉnh vì thực tế sản xuất (theo khách hàng, theo nguyên liệu ..v.v) và đặc biệt là thay đổi bất cứ thông tin gì theo form quy định của NAFIQAD thì đều phải báo cáo điều chỉnh, mỗi lô thậm chí phải thay đổi 4-5 lần. Việc phải bố trí người theo dõi việc “đăng ký / báo cáo” là một phát sinh, mà trong trường hợp không báo cáo kịp thời hoặc có sự sai khác giữa “số liệu báo cáo” với “số đề nghị cấp Chứng thư” thì DN lại phải giải trình; (2) Các DN cho rằng đây là 1 thủ tục hành chính phát sinh vì không có quy định việc phải đăng ký này trong cả TT48 và CV 2374.

Đề nghị: Hủy bỏ TTHC mới phát sinh

--------------- oOo --------------



Báo cáo các Nội dung kiến nghị với Bộ trưởng Cao Đức Phát về TT48/2013, ngày 19/2/2014


База данных защищена авторским правом ©shkola.of.by 2016
звярнуцца да адміністрацыі

    Галоўная старонка