Ctcp chứng khoáN ĐỆ nhấT – the first securities joint stock company




Дата канвертавання24.04.2016
Памер208.44 Kb.


CTCP CHỨNG KHOÁN ĐỆ NHẤT – THE FIRST SECURITIES JOINT STOCK COMPANY


BẢN TIN

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN



THỨ HAI

21-04-2014

KẾT QUẢ GIAO DỊCH TRONG NGÀY

HSX

Index

Tổng KL

Tổng GT (Tỷ VNĐ)

558.14 -7.19/-1.27%

95,569,640

1,503.93

HNX

Index

Tổng KL

Tổng GT (VNĐ)

58.73 -0.8/-1.34%

27,244,522

172.84































TỔNG HỢP KQGD CỦA NĐT NƯỚC NGOÀI 2 NGÀY GẦN NHẤT (HOSE)































KLGD

Tổng cộng ĐTNN

KHỚP LỆNH

THỎA THUẬN

(1 CK)

Toàn TT

ĐTNN

%

Toàn TT

ĐTNN

%

Mua - Buying

6.820.400

93.868.870

6.507.630

6,93

1.700.770

312.77

18,39

Bán - Selling

1.924.420

0

1.611.650

1,72

0

312.77

18,39

Mua-bán/B-S

4.895.980

0

4.895.980

0,00

0

0

0,00































GTGD 

Tổng cộng ĐTNN

KHỚP LỆNH

THỎA THUẬN

(1000 vnđ)

Toàn TT

ĐTNN

%

Toàn TT

ĐTNN

%

Mua - Buying

158.578.864

1.471.017.552

146.063.329

9,93

32.911.235

12.515.535

38,03

Bán-Selling

55.418.600

0

42.903.065

2,92

0

12.515.535

38,03

Mua-bán/B-S

103.160.264

0

103.160.264

0,00

0

0

0,00































THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI































TTCK Thế Giới

Tỷ giá ngoại tệ

Giá vàng SJC 24K

DOW JONES

16,408.54

-16.31

-0.1%

USDVND

20,920.00

20,860.00

Địa điểm

Mua

Bán

NASDAQ

4,095.52

9.29

0.2%

JPYVND

253.88

247.63

TPHCM

33.21

33.91

FTSE

6,625.25

41.08

0.6%

AUDVND

21,950.48

21,496.68

Hà Nội

Mua

Bán

NIKKEI

14,627.09

110.82

0.8%

EURVND

27,779.80

27,342.24

SJC HCM

35.35

35.41

HANG SENG

22,760.24

64.23

0.3%

GBPVND

33,225.18

32,570.63

SJC HN

35

35

Tổng Kết Tình Hình Giao Dịch Ngày 21/04/2014

Kết thúc phiên giao dịch ngày 21/04/2014, chỉ số VN-Index dừng lại ở mức 558,14 điểm, giảm 7,19 điểm (-1,27%). Tổng khối lượng giao dịch đạt 95,570 triệu đơn vị, trị giá 1.503,93 tỷ đồng. Toàn sàn có 50 mã tăng, 186 mã giảm và 68 mã đứng giá.

Chỉ số HNX-Index đứng ở mức 78,87 điểm, giảm 1,71 điểm (-2,13%). Tổng khối lượng giao dịch đạt 74,641 triệu đơn vị, trị giá 859,82 tỷ đồng. Toàn sàn có 62 mã tăng, 175 mã giảm và 140 mã đứng giá.

Tin Vắn Chứng Khoán Đáng Chú Ý

Lịch sự kiện

PMT: Ngày GDKHQ Tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2014

CLC: Ngày GDKHQ Trả cổ tức đợt cuối năm 2013 bằng tiền mặt (15%)

Tổng hợp KQKD quý 1/2014

Các doanh nghiệp báo lỗ

SHN - Công ty Cổ phần Đầu tư Tổng hợp Hà Nội - Sau quý 4/2013 bất ngờ báo lãi trên 60 tỷ đồng, sang quý 1 năm nay, SHN lại tiếp tục báo lỗ 1,4 tỷ đồng, giảm gần một nửa so với khoản lỗ 2,7 tỷ đồng quý 1 năm ngoái.



Các doanh nghiệp có lợi nhuận tăng so với cùng kỳ

SBA - CTCP Sông Ba – Quý 1/2014 SBA lãi ròng 8,433 tỷ đồng gấp gần 4 lần quý 1 năm ngoái.

SCR - CTCP Địa ốc Sài Gòn Thương Tín - Quý 1/2014 với doanh thu thuần 71 tỷ đồng, chỉ bằng 35% so cùng kỳ 2013. Lợi nhuận sau thuế 6,66 tỷ đồng, tăng 62% so cùng kỳ.

CSM - Công ty Cổ phần Công nghiệp Cao su Miền Nam - Quý 1/2014, Casumina lãi ròng 78,5 tỷ đồng, tăng 14,42% so với cùng kỳ. LNTT của công ty đạt 101 tỷ đồng.

VE2 - Công ty cổ phần xây dựng điện VNECO2 - Lợi nhuận sau thuế VE2 quý I/2014 đạt 796 triệu đồng tăng 46% so với cùng kỳ năm ngoái. EPS quý I/2014 đạt 369 đồng.

HST - Công ty cổ phần sách phát hành - TBTH Hưng Yên – Quý 1/2014 lợi nhuận sau thuế đạt 159 triệu đồng tăng 44% so với cùng kỳ năm trước.

HEV - Công ty cổ phần sách Đại học - Dạy Nghề - Quý 1/2014, lợi nhuận sau thuế công ty đạt 373 triệu đồng, tăng 28% so với cùng kỳ quý I/2013. EPS quý I/2014 đạt 373 đồng

LDP - Công ty Cổ phần Dược Lâm Đồng – Ladophar - Sau khi trừ các khoản chi phí phát sinh trong kỳ công ty lãi ròng 4,42 tỷ đồng tăng nhẹ 2% so với cùng kỳ năm ngoái.

DMC - Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Y tế Domesco – Quý 1/2014 DMC đạt 30,3 tỷ đồng LNST tăng 25,2% so với cùng kỳ tương đương EPS đạt 1.134 đ/CP.

DHT - CTCP Dược phẩm Hà Tây - Sau khi trừ chi phí, DHT lãi ròng 4,39 tỷ đồng tăng 41% so với cùng kỳ tương đương EPS đạt 699 đ/CP.

AAM - CTCP Thủy sản Mekong – Quý 1/2014 công ty lãi sau thuế 1,9 tỷ đồng tăng 58% so với cùng kỳ năm 2013.

ACL - Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Cửu Long An Giang – Quý 1/2014 công ty lãi ròng 1,8 tỷ đồng trong khi cùng kỳ lợi nhuận sau thuế âm 7,55 tỷ đồng.



Các doanh nghiệp có lợi nhuận giảm so với cùng kỳ

PGD - Công ty Cổ phần Phân phối Khí thấp áp Dầu khí Việt Nam - Lãi ròng 36 tỷ đồng quý 1/2014, giảm 41% so với cùng kỳ.

VIS - Công ty Cổ phần Thép Việt Ý – Quý 1/2014, lãi sau thuế của công ty chỉ đạt 5,61 tỷ đồng, giảm 74% so với cùng kỳ năm 2013.

HOT - Công ty cổ phần Du lịch - Dịch vụ Hội An - Sau khi trừ chi phí HOT báo lãi sau thuế 6,63 tỷ đồng giảm gần 20% so với cùng kỳ năm ngoái.

DSN - Công ty Cổ phần Công viên nước Đầm Sen - Sau khi trừ chi phí, Công viên nước Đầm Sen đạt 17,86 tỷ đồng LNST giảm 9,75% so với cùng kỳ tương đương EPS đạt 2.114 đ/CP.

Tin doanh nghiệp

VIC - Tập đoàn Vingroup - Công ty CP - Đã thông qua kế hoạch kế hoạch doanh thu 25.000 tỷ đồng và lãi ròng 4.500 tỷ đồng trong năm 2014.

VPK - CTCP Bao bì Dầu thực vật - Đã thông qua kế hoạch 2014 với doanh thu thuần 385 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 26 tỷ, cổ tức 20%.

HCM - CTCP Chứng Khoán Tp.Hồ Chí Minh – H.S.C - Đã thông qua kế hoạch năm 2014 với tổng doanh thu 744,76 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế là 341,49 tỷ đồng, đều tăng trưởng so với thực hiện 2013; cổ tức bằng tiền mặt dự kiến khoảng 12%.

TNG - CTCP Tập đoàn TNG - Công ty sẽ trả cổ tức 10% bằng cổ phiếu; phát hành cho cổ đông hiện hữu tỷ lệ 3:1, giá 10.000 đồng/CP; thực hiện ESOP và phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư chiến lược 8 triệu cổ phần. TNG còn lên phương án phát hành trái phiếu chuyển đổi 100 tỷ đồng cho các nhà đầu tư chiến lược.

Năm 2014, Công ty đặt kế hoạch doanh thu 1.426 tỷ đồng, LNST 50 tỷ đồng; chia cổ tức tối thiểu 10% bằng tiền mặt hoặc cổ phiếu.

THT - CTCP Than Hà Tu - Năm 2014, THT đặt kế hoạch sản xuất 1.650 tấn than, 1.883 tỷ đồng doanh thu, lợi nhuận trước thuế 26,6 tỷ đồng.

LSS - CTCP Mía đường Lam Sơn - Công ty sẽ trình ĐHCĐ thường niên năm 2014 kế hoạch doanh thu 1.615 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế 55 tỷ đồng, tăng 5,4% so với năm ngoái; cổ tức 5,5%.

BVH - Tập đoàn Bảo Việt - Tập đoàn này sẽ phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư chiến lược từ 40 - 61,5 triệu CP để tăng vốn lên thành 7.205 - 7.420 tỷ đồng. Thời điểm phát hành trước 31/3/2015.

DPM - Tổng CTCP Phân bón và hóa chất dầu khí - Đã thông qua việc chuyển nhượng 2,6 triệu cổ phiếu Tổng CTCP Dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí (PVC). Sau chuyển hượng, DPM dự kiến còn nắm giữ 2.533.202 cổ phiếu PVC.

BTT - CTCP Thương mại dịch vụ Bến Thành - Đã thông qua chi trả cổ tức đợt 3 năm 2013 bằng tiền mặt, tỷ lệ 10%. Ngày đăng ký cuối cùng là ngày 8/5. Thời gian thanh toán dự kiến là ngày 22/5.

VNG - CTCP Du lịch Gofl Việt Nam - Đã bổ nhiệm ông Nguyễn Phong Phú giữ chức vụ Phó tổng giám đốc Công ty kể từ ngày 18/4. Mức lương và phụ cấp ông Phú được hưởng là 22 triệu đồng/tháng.

MSN - CTCP Tập đoàn Ma San - Công ty đã nhận được hồ sơ đề cử thành viên HĐQT nhiệm kỳ 2014 - 2019 của 6 người là ông Nguyễn Đăng Quang, ông Hồ Hùng Anh, bà Nguyễn Hoàng Yến, ông Nguyễn Thiều Nam, ông Lars Kjaer và ông Dominic Edward Salter Price.

PCG - CTCP Đầu tư Phát triển Gas đô thị - Ngày 25/4 là ngày giao dịch không hưởng quyền nhận cổ tức năm 2013 bằng tiền mặt, tỷ lệ 6,5%. Ngày đăng ký cuối cùng là ngày 29/4. Thời gian thanh toán là ngày 15/5.

WCS - CTCP Bến xe Miền Tây - Ngày 25/4 là ngày giao dịch không hưởng quyền nhận cổ tức đợt 2 năm 2013 bằng tiền mặt, tỷ lệ 20%. Ngày đăng ký cuối cùng là ngày 29/4. Thời gian thanh toán là ngày 16/5.

Kết quả giao dịch cổ phiếu của cổ đông

DIG - Tổng CTCP Đầu tư Phát triển XD - Mutual Fund Elite (Non-Ucits) đã mua 161.990 cp nâng sở hữu lên thành 7.310.180 cp DIG, chiếm tỷ lệ 5,11% vốn và trở thành cổ đông lớn kể từ ngày 16/04.

SCJ - CTCP Xi măng Sài Sơn - Từ ngày 20/03 đến 15/04, bà Nguyễn Thị Thu Trang, con gái ông Nguyễn Văn Bổng - Chủ tịch HĐQT đã mua 100.000 cp SCJ, chiếm tỷ lệ 1,02% vốn. Đây cũng là số cổ phiếu ông Bổng nắm giữ sau giao dịch.

PNC - CTCP Văn hóa phương Nam - Ông Võ Ngọc Thanh, thành viên HĐQT đã mua xong 83.000 cổ phiếu PNC như đăng ký. Sau giao dịch, ông Thanh sở hữu 468.000 cổ phiếu PNC, chiếm tỷ lệ 4,33%.

NSC - CTCP Giống cây trồng Trung ương - CTCP Đường Mặt Trời, cổ đông lớn đã bán 659.000 cổ phiếu NSC. Sau giao dịch, tổ chức này còn sở hữu 1.050.472 cổ phiếu NSC, chiếm tỷ lệ 10,48%.

DXG - CTCP Dịch vụ và xây dựng địa ốc Đất Xanh - Mutual Fund Elite(Non-Ucits), cổ đông nước ngoài đã mua thêm 146.500 cổ phiếu DXG, nâng sở hữu lên 3.832.450 cổ phiếu, chiếm tỷ lệ 5,11% và trở thành cổ đông lớn của DXG từ ngày 16/4.

ALP - CTCP Đầu tư Alphanam - Ông Nguyễn Minh Nhật không mua được cổ phiếu nào trong tổng số 9.624.220 cổ phiếu chào mua công khai. Hiện ông Nhật vẫn đang sở hữu 9.595.000 cổ phiếu ALP, chiếm tỷ lệ 4,98%.

PVV - CTCP Đầu tư xây dựng Vinaconex - PVC - Bà Ngô Thị Thu Hoài, thành viên Ban kiểm soát đã không bán được cổ phiếu nào trong tổng số 10.000 cổ phiếu đăng ký bán với lý do thị trường không đạt kỳ vọng. Đây cũng là số lượng cổ phiếu PVV mà bà Hoài đang sở hữu sau giao dịch.

GMC - CTCP Sản xuất thương mại may Sài Gòn - Ông Nguyễn Đại, anh ông Nguyễn Ân, Tổng giám đốc đã bán xong toàn bộ 13.250 cổ phiếu GMC từng nắm giữ.

DIG - Tổng CTCP Đầu tư phát triển xây dựng - Mutual Fund Elite(Non-Ucits), cổ đông nước ngoài đã mua 161.990 cổ phiếu DIG, nâng tổng sở hữu lên 7.310.180 cổ phiếu, chiếm tỷ lệ 5,11% và trở thành cổ đông lớn của DIG kể từ ngày 16/4.

SBT - CTCP Mía đường Thành Thành Công Tây Ninh - Bà Huỳnh Thị Ức My, Chủ tịch HĐQT đã mua xong 3,2 triệu cổ phiếu SBT như đăng ký, nâng tổng số cổ phiếu SBT nắm giữ lên 7.103.403 cổ phiếu, tỷ lệ 4,95%. Hiện CTCP Đầu tư Thành Thành Công cũng do bà My làm Chủ tịch HĐQT đang sở hữu 35.247.600 cổ phiếu SBT, chiếm tỷ lệ 24,56% và bà Huỳnh Bích Ngọc, mẹ bà My đang sở hữu 1,5 triệu cổ phiếu SBT, chiếm tỷ lệ 1,05%.

SCL - CTCP Sông Đà Cao Cường - Từ ngày 07/04 đến ngày 15/04, CTCP Công nghiệp - Dịch vụ Cao Cường - tổ chức có liên quan đến ông Kiều Văn Mát - Chủ tịch HĐQT đã bán 500.000 cp như đã đăng ký. Sau giao dịch tổ chức này giảm số lượng nắm giữ xuống còn 830.000 CP (tỷ lệ 9,22%).



Giao dịch cổ phiếu của cổ đông

KBC - Tổng Công ty phát triển Đô thị Kinh Bắc - Bà Nguyễn Thị Kim Thanh, vợ ông Đặng Thành Tâm, Chủ tịch HĐQT đăng ký bán 2 triệu cổ phiếu KBC từ ngày 23/4 đến ngày 22/5 theo phương thức khớp lệnh. Hiện bà Thanh nắm giữ 12.272.770 cổ phiếu KBC

VRC - CTCP Xây lắp và địa ốc Vũng Tàu - Ông Hoàng Mạnh Huy, thành viên Ban kiểm soát đăng ký mua 1 triệu cổ phiếu VRC từ ngày 24/4 đến ngày 23/5 theo phương thức thỏa thuận, chiếm tỷ lệ 7,14%. Hiện ông Huy chưa sở hữu cổ phiếu VRC nào.

CSC - CTCP Đầu tư & XD Thành Nam - Ông Đoàn Văn Tuấn - Ủy viên HĐQT đăng ký mua 50.000 cp từ ngày 22/04 đến ngày 21/05 để tăng tỷ lệ sở hữu. Hiện ông Tuấn đang nắm giữ 13.900 CP (tỷ lệ 0,28%).



Lịch Trả Cổ Tức & Phát Hành Thêm



Nội dung

Ngày ĐKCC(**)

Ngày GDKHQ(***)

Ngày thanh toán

dự kiến

TBX

Tạm ứng cổ tức năm 2012 bằng tiền (Thay đổi ngày thực hiện lần 2), 1.200đồng/cổ phiếu

20/02/2013

18/02/2013

25/04/2014

SKS

Tạm ứng cổ tức năm 2013 bằng tiền mặt (Thay đổi ngày thực hiện), 500đồng/cổ phiếu

25/10/2013

23/10/2013

25/04/2014

ONE

Trả cổ tức năm 2012 đợt 2 bằng tiền, 500đồng/cổ phiếu

28/11/2013

26/11/2013

25/04/2014

RDP

Thực hiện quyền mua cổ phiếu phát hành thêm (Thay đổi thời gian đăng ký và chuyển nhượng), tỷ lệ 4:1

23/01/2014

21/01/2014

 

L18

Trả cổ tức năm 2013 bằng tiền, 1.350đồng/cổ phiếu

24/02/2014

20/02/2014

25/04/2014

PGC

Thanh toán cổ tức còn lại năm 2012 và ứng cổ tức đợt 1/2013 bằng tiền, 1.400đồng/cổ phiếu

06/03/2014

04/03/2014

21/04/2014

KHA

Trả cổ tức bằng tiền mặt đợt cuối năm 2013, 500đồng/cổ phiếu

12/03/2014

10/03/2014

22/04/2014

ICG

Trả cổ tức năm 2011 bằng tiền, 1.000đồng/cổ phiếu

20/03/2014

18/03/2014

25/04/2014

NGC

Trả cổ tức bằng tiền mặt năm 2013, 1.300đồng/cổ phiếu

20/03/2014

18/03/2014

21/04/2014

SJ1

Thực hiện quyền mua cổ phiếu phát hành thêm, tỷ lệ 2:1

20/03/2014

18/03/2014

 

SEC

Thực hiện quyền mua cổ phiếu giai đoạn 2 cho cổ đông hiện hữu, tỷ lệ 100:37.5

20/03/2014

18/03/2014

 

POT

Tạm ứng cổ tức năm 2013 bằng tiền, 400đồng/cổ phiếu

21/03/2014

19/03/2014

21/04/2014

FMC

Tạm ứng cổ tức năm 2013, 1.500đồng/cổ phiếu

21/03/2014

19/03/2014

21/04/2014

CHC

Tạm ứng cổ tức năm 2013 bằng tiền, 1.000đồng/cổ phiếu

21/03/2014

21/03/2014

21/04/2014

SAV

Tạm ứng cổ tức năm 2013 bằng tiền mặt, 400đồng/cổ phiếu

25/03/2014

21/03/2014

21/04/2014

HEV

Tạm ứng cổ tức năm 2013 bằng tiền, 1.600đồng/cổ phiếu

26/03/2014

24/03/2014

25/04/2014

ELC

Tạm ứng cổ tức năm 2013 bằng tiền, 800đồng/cổ phiếu

26/03/2014

24/03/2014

22/04/2014

HAI

Trả cổ tức đợt 2 năm 2013 bằng tiền, 1.000đồng/cổ phiếu

28/03/2014

26/03/2014

21/04/2014

FIT

Thực hiện quyền mua cổ phiếu, tỷ lệ 100:65

28/03/2014

26/03/2014

 

QHD

Tạm ứng cổ tức năm 2013 bằng tiền, 1.700đồng/cổ phiếu

01/04/2014

28/03/2014

25/04/2014

VEE

Tạm ứng cổ tức năm 2013 bằng tiền, 1.400đồng/cổ phiếu

04/04/2014

04/04/2014

24/04/2014

CHP

Trả cổ tức năm 2013 bằng tiền, 300đồng/cổ phiếu

04/04/2014

02/04/2014

24/04/2014

FCN

Trả cổ tức năm 2013 bằng tiền mặt, 1.000đồng/cổ phiếu

04/04/2014

02/04/2014

25/04/2014

SJ1

Trả cổ tức năm 2013 bằng tiền đợt 1, 1.000đồng/cổ phiếu

04/04/2014

02/04/2014

25/04/2014

ADP

Tạm ứng cổ tức đợt 4 cho năm tài chính 2013, 400đồng/cổ phiếu

04/04/2014

02/04/2014

24/04/2014

DNM

Tạm ứng cổ tức đợt 2 năm 2013 bằng tiền, 1.500đồng/cổ phiếu

07/04/2014

03/04/2014

22/04/2014

NHC

Tạm ứng cổ tức còn lại năm 2013, 1.500đồng/cổ phiếu

08/04/2014

04/04/2014

21/04/2014

NAV

Trả cổ tức năm 2013 bằng tiền mặt, 600đồng/cổ phiếu

10/04/2014

07/04/2014

23/04/2014

VBC

Thanh toán cổ tức năm 2013 bằng tiền, 5.000đồng/cổ phiếu

11/04/2014

08/04/2014

25/04/2014

KLS

Trả cổ tức năm 2013 bằng tiền, 800đồng/cổ phiếu

15/04/2014

11/04/2014

25/04/2014

VXB

Chi cổ tức năm 2013 bằng tiền mặt, 1.500đồng/cổ phiếu

17/04/2014

15/04/2014

25/04/2014

SMB

Tạm ứng cổ tức năm 2013 bằng tiền, 1.000đồng/cổ phiếu

21/04/2014

17/04/2014

12/05/2014

ABT

Tạm ứng cổ tức đợt 1 năm 2014 bằng tiền mặt, 1.500đồng/cổ phiếu

22/04/2014

18/04/2014

16/05/2014

SGH

Phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, tỷ lệ 1:1

22/04/2014

18/04/2014

 

DPR

Chi trả cổ tức đợt 2 năm 2013 bằng tiền, 1.500đồng/cổ phiếu

23/04/2014

21/04/2014

09/05/2014

CLC

Chi trả cổ tức đợt cuối năm 2013 bằng tiền mặt, 1.500đồng/cổ phiếu

23/04/2014

21/04/2014

14/05/2014

TCT

Chi tạm ứng cổ tức năm 2013 bằng tiền, 2.000đồng/cổ phiếu

24/04/2014

22/04/2014

15/05/2014

RBC

Trả cổ tức năm 2013 bằng tiền mặt, 280đồng/cổ phiếu

24/04/2014

24/04/2014

09/05/2014

PNJ

Trả cổ tức đợt 2 năm 2013 bằng tiền, 1.000đồng/cổ phiếu

24/04/2014

22/04/2014

15/05/2014

VNC

Trả cổ tức còn lại năm 2013 bằng tiền, 650đồng/cổ phiếu

24/04/2014

22/04/2014

20/05/2014

TCM

Thanh toán cổ tức năm 2013 bằng tiền, 1.000đồng/cổ phiếu

25/04/2014

23/04/2014

23/05/2014

GER

Chia cổ tức năm 2013 bằng tiền, 500đồng/cổ phiếu

25/04/2014

23/04/2014

12/05/2014

VHC

Thanh toán cổ tức năm 2013 bằng tiền, 1.500đồng/cổ phiếu

25/04/2014

23/04/2014

14/05/2014

TMC

Thanh toán cổ tức đợt 3 năm 2013 và tạm ứng cổ tức đợt 1 năm 2014 bằng tiền, 500đồng/cổ phiếu

25/04/2014

23/04/2014

16/05/2014

JSC

Trả cổ tức năm 2012 và tạm ứng cổ tức năm 2013 bằng tiền, 301đồng/cổ phiếu

25/04/2014

23/04/2014

20/05/2014

DQC

Trả cổ tức đợt 02 năm 2013 bằng tiền, 1.000đồng/cổ phiếu

25/04/2014

23/04/2014

08/05/2014

FCN

Trả cổ tức năm 2013 bằng cổ phiếu, tỷ lệ 10:1

25/04/2014

23/04/2014

 



Tin Vĩ Mô Trong Nước

CPI Hà Nội tăng 0,12% trong tháng 4, tăng 1,15% trong 4 tháng

Cục thống kê Thành phố Hà Nội vừa công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2014 tăng 0,12% so với tháng trước.

Đây là mức lạm phát thấp thứ hai kể từ đầu năm, sau mức giảm 0,15% vào tháng 3, đưa lạm phát 4 tháng đầu năm của Hà Nội lên 1,15%.

Trong tháng 4, nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm do đợt giảm giá dầu hỏa và giá gas vào đầu tháng.

Ngược lại, nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng giá mạnh nhất với mức 0,44%, tiếp đến là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,32%.

Chỉ số giá vàng và chỉ số giá USD giảm lần lượt 0,87% và 0,01% so với tháng trước.



Xuất khẩu dệt may tăng trưởng ấn tượng

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu dệt may trong tháng 3 tăng 46,3% so với tháng trước, đạt 1,52 tỷ USD.

Như vậy, tính đến hết quý 1, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt gần 4,44 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm 2013 (tương ứng tăng 720,7 triệu USD).

Đáng chú ý, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang hầu hết các thị trường đều đạt mức tăng trưởng hai con số.

Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU tiếp tục là 3 đối tác thương mại lớn nhất nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam với kim ngạch tăng và tốc độ tăng so với cùng kỳ năm 2013 tương ứng là 326 triệu USD và 17,7%; 65,8 triệu USD và 12,6%; 106 triệu USD và 20,7%.

Tổng kim ngạch hàng dệt may xuất sang 3 khu vực thị trường này đạt gần 3,4 tỷ USD, chiếm tới 76% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước.

Theo Tập đoàn dệt may Việt Nam (Vinatex), xuất khẩu dệt may tăng trưởng mạnh là do các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã đầu tư mở rộng sản xuất, mua sắm máy móc, trang thiết bị hiện đại, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm thông qua việc ứng dụng công nghệ sản xuất tinh gọn (LEAN).

Bên cạnh đó còn có sự tác động lớn từ các hiệp định thương mại mà Việt Nam đang tham gia đàm phán và sẽ có hiệu lực hàng loạt trong thời gian tới như TPP, FTA Việt Nam - EU, Liên minh thuế quan giữa Việt Nam với 3 nước Nga - Belarus - Kazakhstan./.



Cầu VNĐ và USD cùng giảm khiến lãi suất giảm nhẹ

Trong tuần từ 14/4 - 18/4/2014, thị trường tài chính ngân hàng không có nhiều biến động. Tỷ giá USD có xu hướng tăng nhẹ, nhưng biên độ dao động thu hẹp. Lãi suất giao dịch cả VND và USD đều giảm do nhu cầu giảm.

Tỷ giá liên ngân hàng ổn định và có xu hướng tăng nhẹ, nhưng biên độ dao động thu hẹp hơn tuần trước, giao dịch trong khoảng từ 21.095 – 21.100. Tỷ giá trên thị trường tự do cũng ổn định và có xu hướng giảm nhẹ so với tuần trước, dao động trong biên độ hẹp từ 21.080 – 21.110. Tỷ giá tự do đang tiệm cận ngày càng sát tỷ giá trên thị trường chính thức.

Lãi suất giao dịch cả VND và USD đều giảm khi nhu cầu của cả hai đồng tiền giảm. Lãi suất VND giảm mạnh khi nguồn cung dồi dào trong khi cầu ở mức thấp. So với cuối tuần trước, lãi suất các kỳ hạn ngắn đến 2W giảm từ 1,1-1,2%; lãi suất 1M và 3M giảm từ 0,2- 0,3%. Cụ thể, lãi suất phiên cuối tuần tại: ON: 1,4- 1,2%; 1W: 1,8- 2,2%; 2W: 2,3- 2,6%; 1M: 3- 3,5%; và 3M: 4,2- 4,5%. Với giao dịch đồng USD, nguồn cung vẫn chưa được cải thiện nhưng cầu đã giảm khiến lãi suất giảm nhẹ so với tuần trước. Tính đến phiên cuối tuần, lãi suất đồng USD đang giao dịch ở mức: ON: 0,5-0,6%, giảm 0,2%; 1W: 0,8-1%, giảm 0,3%; 2W: 1,1-1,4%, giảm 0,1%; 1M: 1,4-1,6%, giảm 0,1%.

Hoạt động phát hành tín phiếu NHNN ghi nhận tuần hút ròng mạnh của NHNN với khối lượng trúng thầu mỗi ngày ở mức rất cao. Trung bình một ngày, NHNN phát hành gần 7.500 tỷ đồng tín phiếu cả hai kỳ hạn 28 và 91 ngày, có ngày khối lượng phát hành lên đến 10.000 tỷ đồng, tăng mạnh so với mức trung bình khoảng 2.000 tỷ đồng/ngày của tuần trước. Khối lượng trúng thầu cả tuần đứng ở mức 37.198 tỷ đồng, tăng mạnh 27.102 tỷ đồng so với tuần trước. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn trong tuần đạt 13.691 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, NHNN hút ròng 23.507 tỷ đồng thông qua kênh phát hành tín phiếu. Lượng tín phiếu đang lưu hành tính đến ngày 18/4 là 189.352 tỷ đồng. Lãi suất trúng thầu tín phiếu không đổi so với tuần trước, lãi suất kỳ hạn 28 ngày đứng ở mức 2,7%; kỳ hạn 91 ngày ở mức 4%. Trong tuần không phát sinh hoạt động mua kỳ hạn nào trên OMO, và chỉ có 500 tỷ đồng đáo hạn. Tính đến ngày cuối tuần 18/4, số dư cầm cố trên OMO về mức 0 đồng.



Sáng 21/4: Giá vàng lình xình dưới mức 35,5 triệu đồng/lượng

Trong lúc giá vàng thế giới đang cố gắng vượt ngưỡng 1.300 USD/oz, giá vàng trong nước vẫn giao dịch quanh 35,5 triệu đồng/lượng.

Lúc 8h30 sáng, giá vàng SJC tại Tp.HCM được giao dịch tại 35,35-35,41triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá giao dịch tại SJC Hà Nội và SJC DOJI đang nhỉnh hơn 20 nghìn đồng/lượng.

Tại khối ngân hàng, ngân hàng Eximbank đang đặt giá giao dịch là 35,35-35,39 triệu đồng/lượng và DongA Bank là 35,36-35,4 triệu đồng/lượng.Tại Bảo Tín Minh Châu, vàng Rồng Thăng Long giao dịch ở 33,37-33,92 triệu đồng/lượng.

Trên thị trường thế giới, giá vàng giao dịch ở mức 1.290 USD/oz. Quy đổi theo tỷ giá ngân hàng, giá vàng trong nước đang cao hơn thế giới 2,52 triệu đồng.

Mặc dù đang giao dịch dưới ngưỡng tâm lý 1.300 USD/oz, giá vàng đang cố lấy lại động năng bởi 1 số nhà giao dịch thị trường Châu Á đã bắt đầu mua tham gia thị trường.



Tin Thế Giới

Rủi ro đang đè nặng lên vàng

Theo các nhà phân tích, tình hình kinh tế Mỹ và Trung Quốc sẽ quyết định xu hướng giá vàng tuần tới. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cũng quan tâm đến diễn biến chính trị tại Ukraina.

Mặc dù vậy, có tới 12/21 ý kiến theo khảo sát của Kitco cho rằng vàng sẽ tiếp tục giảm trong tuần tới.

Trái với dự báo của các nhà phân tích rằng vàng sẽ có tuần tăng giá thứ ba liên tiếp, tuần qua giá vàng thế giới đã giảm khá mạnh. Theo đó, giá vàng thế giới chỉ duy trì được xu hướng tăng vào trong ngày giao dịch đầu tiên, lên tới 1.329,5 USD/oz.

Tuy nhiên cũng từ đó, giá vàng thế giới bắt đầu quay đầu giảm và giảm rất mạnh trong ngày thứ Ba, đã rơi một mạnh xuống 1.329,4 USD/oz do áp lực chốt lời của các nhà đầu tư trong khi nhu cầu vàng vật chất tại Trung Quốc yếu, còn đồng USD thì có xu hướng mạnh lên.

Thế nhưng lực cầu bắt đáy tại mức giá này lại khiến vàng hồi phục lên trên ngưỡng 1.300 USD/oz và dao động quanh mức giá này trong suốt ngày giao dịch hôm sau. Tuy nhiên, động thái bán tháo của các nhà đầu tư lại một lần nức kéo vàng trượt khỏi ngưỡng 1.300 USD/oz.

Đóng cửa tuần qua, giá vàng giao ngay thế giới dừng ở 1.293,9 USD/oz, giảm 24,5 USD/oz so với mức giá đóng cửa tuần trước đó. Trên sàn COMEX, giá vàng giao tháng sáu cũng mất 20USD xuống còn 1.293,9 USD/oz.

Ảnh hưởng của thị trường thế giới, giá vàng trong nước cũng tăng khá mạnh thời điểm mở cửa tuần giao dịch mới. Tuy nhiên sau khi leo lên tới 35,96 triệu đồng/lượng trong ngày thứ Hai, giá vàng lại quay đầu giảm và duy trì xu hướng này trong suốt các ngày giao dịch sau đó.

Hiện giá vàng trong nước đang dừng ở 35,44 triệu đồng/lượng, giảm 350.000 đồng/lượng so với mức giá đóng cửa tuần trước đó và giảm khoảng 520.000 đồng/lượng so với mức đỉnh của ngày thứ Hai.

Chênh lệch giữa giá vàng SJC trong nước với giá vàng thế giới hiện vào khoảng 2,45 triệu đồng/lượng.

Xu hướng giảm của vàng được dự báo sẽ tiếp diễn trong tuần tới. Cụ thể, theo cuộc khảo sát của Kitco với 33 thành viên của thị trường, trong số 21 ý kiến phản hồi có tới 12 ý kiến (57,2%) cho rằng giá vàng sẽ giảm, trong khi chỉ có 7 ý kiến cho rằng vàng sẽ tăng và 2 ý kiến trung lập.

Những ý kiến nhận định giá vàng sẽ tiếp tục giảm cho rằng, động thái bán tháo cho thấy tâm lý bất ổn của các nhà đầu tư và động thái này nhiều khả năng sẽ tiếp diễn trong tuần tới.

Ken Morrison - Biên tập viên của bản tin trực tuyến Morrison cho rằng, giá vàng có thể phá vỡ ngưỡng hỗ trợ 1280/75 trong tuần tới và nếu điều này xảy ra, rất có thể vàng sẽ tái kiểm tra mức giá 1.200 USD/oz.

Trong khi đó, theo nhiều nhà phân tích, tình hình kinh tế Mỹ và Trung Quốc sẽ quyết định xu hướng giá vàng tuần tới. Với Trung Quốc, nếu diễn biến của nền kinh tế thứ hai thế giới này xấu đi sau các cuộc vỡ nợ gần đây của các DN chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới cầu vàng vật chất.

Trong khi với Mỹ, các dữ liệu gần đây đều cho thấy nền kinh tế lớn nhất thế giới đang trên đà phục hồi, và điều đó cũng là một áp lực lớn đối với vàng.

Robin Bhar, Trưởng bộ phận nghiên cứu kim loại của Societe Generale nhận định, xu hướng giảm của vàng sẽ tiếp tục vào tuần tới, bởi các dữ liệu của Mỹ rõ ràng về xu hướng đi lên. Bhar cũng cho biết, quỹ đầu tư vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust đã giảm lượng vàng nắm giữ xuống còn 798,43 tấn trong ngày Thứ tư, so với mức 806,82 tấn của ngày hôm trước, như một dấu hiệu của sự không quan tâm đầu tư.



Trung Quốc có dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới

Vừa qua, Vụ Thống kê của Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF) đã đưa ra báo cáo cập nhật, tổng hợp 146 báo cáo của các quốc gia thành viên IMF, các quốc gia không phải là thành viên IMF và một số tổ chức khác về dự trữ ngoại hối chính thức (COFER).

Báo cáo thống kê một số loại ngoại tệ chủ chốt trong cơ cấu dự trữ, bao gồm USD, bảng Anh, euro, yên Nhật, Frank Thụy Sĩ, dollar Canada, dollar Australia và một số ngoại tệ khác.

Số liệu thống kê cho thấy, cơ cấu dự trữ ngoại tệ có những thay đổi nhất định kể từ khi đồng tiền chung euro được lưu hành và sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009. Trước năm 1999, một số đồng tiền châu Âu được các nước sử dụng trong giỏ dự trữ ngoại tệ, bao gồm: đồng mác của CHLB Đức, frank của Pháp, frank Thụy Sĩ, guider của Hà Lan, ECU (đồng tiền của Thị trường chung châu Âu). Những đồng tiền này không còn giá trị lưu hành và được thay thế bằng đồng tiền chung euro, khi đồng tiền chung này bắt đầu lưu hành chính thức từ ngày 01/01/1999.

Do tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009 và USD trượt giá, nhiều nước trên thế giới bắt đầu điều chỉnh cơ cấu dự trữ ngoại hối theo hướng tăng dự trữ vàng và một số đồng tiền chuyển đổi khác như dollar Canada và dollar Australia, điều này phản ánh những thay đổi lớn trong quan điểm của một số ngân hàng trung ương (NHTW) về thói quen dự trữ ngoại hối. Một số ngoại tệ khác như dollar New Zealand, Peso Mexicô, Nhân dân tệ Trung Quốc cũng bắt đầu được một số nước sử dụng trong giao dịch thanh toán thương mại và dự trữ ngoại tệ, nhưng không đưa vào bảng thống kê do tỉ trọng còn thấp. Tỉ trọng USD trong cơ cấu dự trữ tuy giảm dần, nhưng vẫn chiếm tỉ trọng cao nhất. Dữ liệu thống kê cũng phân ra hai nhóm quốc gia: nhóm các nước phát triển và nhóm các nước đang phát triển và mới nổi.

Đến cuối năm 2013, tổng dự trữ ngoại hối thế giới đạt 11.673,6 tỉ USD, tăng từ gần 1.000 tỉ USD vào các năm 1991-1993, khoảng 2.000 tỉ USD vào năm 2000 và 4.000 tỉ USD vào năm 2005. Trong số này, phần lớn dự trữ ngoại hối tập trung vào tốp 20 quốc gia với tổng cộng 11.187 tỉ USD. Đứng đầu danh sách là Trung Quốc đại lục (không kể Hồng Kông) với 3.820 tỉ USD, tăng từ 18 tỉ USD vào năm 1990 và 146 tỉ USD vào năm 2000. Đứng thứ hai là Nhật Bản với 1.268 tỉ USD (giảm từ mức 1.300 tỉ USD vào cuối năm 2012), những quốc gia còn lại có dự trữ ngoại hối dưới 1.000 tỉ USD.



(Nguồn: hsx.vn; hnx.vn; ndhmoney.vn; vinacorp.vn; sanotc.com; tinnhanhchungkhoan.vn; atpvietnam.com; vietstock.vn; giavang.net; TTXVN)


Bản báo cáo này được thực hiện nhằm mục đích cung cấp thông tin và mang tính tham khảo, không bao gồm bất cứ một khuyến nghị mua bán nào đối với nhà đầu tư. Thông tin sử dụng trong báo cáo được thu thập từ nhiều nguồn mà chúng tôi cho là đáng tin cậy, tuy nhiên độ chính xác và hoàn hảo của thông tin không được đảm bảo. Các quan điểm và nhận định của chúng tôi có giá trị đến ngày ra báo cáo và có thể thay đổi mà không cần thông báo trước. Chúng tôi tuyệt đối không chịu trách nhiệm cho bất kỳ khoản lỗ hay thiệt hại nào trong đầu tư đối với việc sử dụng toàn bộ hoặc từng phần thông tin hay nhận định nào của bản báo cáo này.

Bản báo cáo này thuộc bản quyền của FSC. Mọi sự sao chép, sửa đổi và sử dụng thông tin trong bản báo cáo đề nghị ghi rõ nguồn trích dẫn. Xin cảm ơn.








_______________________________________________________________________________



Người phụ trách tổng hợp : Nguyễn Khánh Quang 23/04/2016


База данных защищена авторским правом ©shkola.of.by 2016
звярнуцца да адміністрацыі

    Галоўная старонка